- Published on
- 266 lượt xem
RỦI RO CHẤT LƯỢNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ-GÓT CHÂN ACHILLES CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT
- Tác giả
- Họ tên
- Phan Bính Quân

Trong giao thương quốc tế, việc sở hữu một bộ chứng từ hoàn hảo không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp xuất khẩu đã an toàn về mặt pháp lý. Thực tế cho thấy, rủi ro pháp lý thường không phát sinh từ các điều kiện giao hàng Incoterms, mà lại tiềm ẩn ngay trong chính cách quy định "điều khoản chất lượng" của bản hợp đồng.
Sự lầm tưởng về bản chất Incoterms và Chứng thư kiểm định tại cảng bốc hàng (POL)
Nhiều doanh nghiệp trong nước duy trì niềm tin sai lầm rằng chỉ cần hoàn thành nghĩa vụ giao hàng đúng theo chuẩn Incoterms và sở hữu chứng thư kiểm định đạt chuẩn tại cảng bốc hàng (POL - Port of Loading) là có thể yên tâm về trách nhiệm chất lượng sản phẩm. Điều đó không sai nhưng Incoterms thực chất chỉ đóng vai trò giải quyết bài toán về phân bổ chi phí vận tải cũng như thời điểm chuyển giao các rủi ro tổn thất vật lý, chẳng hạn như hàng hóa bị rơi vỡ hay hư hỏng do thiên tai. Các điều kiện thương mại này hoàn toàn không có giá trị bảo hiểm cho tính phù hợp của hàng hóa theo như quy định tại Điều 35 của Công ước Viên 1980 (CISG).
Căn cứ theo Điều 36(1) và 36(2) của Công ước CISG, người bán vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm đối với bất kỳ sự không phù hợp nào về mặt chất lượng nếu nguyên nhân đã tồn tại từ trước hoặc phát sinh sau đó do lỗi của chính mình gây ra. Trách nhiệm này mở rộng tới cả những những lỗi kỹ thuật chỉ có thể phát hiện được khi hàng hóa đã cập cảng dỡ (POD - Port of Discharge). Do đó, chứng thư kiểm định tại cảng bốc hàng không phải lá chắn miễn trừ mọi trách nhiệm cho nhà xuất khẩu. Thậm chí trong trường hợp doanh nghiệp đã chiết khấu bộ chứng từ thành công qua hệ thống ngân hàng và dòng tiền đã thực sự về tài khoản, người mua vẫn được trao quyền đóng băng thanh toán đối với các lô hàng tiếp theo, yêu cầu giảm trừ giá trị, hoặc buộc bên bán phải hoàn trả tiền kèm theo toàn bộ các chi phí lưu kho bãi phát sinh nếu họ chứng minh được hàng hóa giao đến không phù hợp với thỏa thuận.
Việc người mua đơn phương cấn trừ khoản phải trả vào các lô hàng sau là một động thái nguy hiểm, bởi nó khiến rủi ro ảnh hưởng sang cả những giao dịch vốn chưa hề phát sinh bất kỳ tranh chấp nào.
Việt Nam bảo lưu Điều 96 CISG và rủi ro thỏa thuận sửa đổi bị từ chối công nhận do không đáp ứng điều kiện tiên quyết
Trọng tâm của rủi ro pháp lý khi xảy ra xung đột còn nằm ở việc Việt Nam đã tuyên bố bảo lưu Điều 96 của Công ước CISG. Lập trường này đồng nghĩa với việc pháp luật Việt Nam loại trừ các quy định cho phép sửa đổi hợp đồng bằng lời nói hoặc hành vi, đòi hỏi mọi sự điều chỉnh hợp đồng đều bắt buộc phải được lập thành văn bản. Mặc dù nhiều doanh nghiệp lập luận rằng email hay các tin nhắn điện tử cũng được công nhận là văn bản theo Luật Giao dịch điện tử, nhưng điểm yếu then chốt lại nằm ở vấn đề thẩm quyền xác lập và khả năng chứng minh sự tồn tại của việc sửa đổi đó.
Việc các nhân viên kinh doanh tự ý thỏa thuận với đối tác để thay đổi các tiêu chuẩn kỹ thuật hay chấp nhận hạ tiêu chuẩn chất lượng thông qua các ứng dụng liên lạc trực tuyến mà không có sự phê duyệt bằng văn bản của Người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp pháp mang lại rủi ro bị tòa án hoặc hội đồng trọng tài bác bỏ, coi là vô hiệu và không có giá trị ràng buộc do không thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện về hình thức văn bản và thẩm quyền đại diện.
Hậu quả nhãn tiền là khi tranh chấp nổ ra, doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị tước mất công cụ phòng vệ vì những thỏa thuận nới lỏng tiêu chuẩn trước đó không được công nhận, dẫn đến việc buộc phải bồi thường dựa trên những quy chuẩn của bản hợp đồng gốc ban đầu. Để hạn chế điểm bất lợi này, trong hợp đồng, doanh nghiệp cần thiết lập rõ ràng điều khoản Toàn bộ thỏa thuận (Entire Agreement Clause) và điều khoản cấm Sửa đổi bằng miệng (No Oral Modification - NOM Clause). Đồng thời, hợp đồng phải quy định nghiêm ngặt chỉ những người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền bằng giấy ủy quyền có đóng dấu hợp lệ mới có quyền xác nhận thay đổi điều khoản chất lượng thông qua các kênh liên lạc chính thức như email công ty.
Biến đổi chất lượng trong quá trình vận chuyển đường biển
Bên cạnh yếu tố con người, khoảng cách địa lý và thời gian hải trình giữa cảng bốc hàng và cảng dỡ hàng cũng là một khoảng trống mênh mông dễ làm nảy sinh tranh chấp và gây ra tổn thất tài chính nặng nề. Lấy ví dụ về một lô hàng gạo xuất khẩu, tại cảng bốc hàng, chứng thư của tổ chức giám định độc lập SGS ghi nhận độ ẩm đạt chuẩn ở mức 13,9%; thế nhưng sau một tháng vận chuyển trên biển, kết quả kiểm định độc lập do người mua thực hiện tại cảng dỡ lại cho ra con số lên tới 14,5%.
Nếu hợp đồng gốc vô tình bỏ quên việc quy định các yếu tố then chốt như phương pháp lấy mẫu (Sampling), tiêu chuẩn thử nghiệm (Testing methods), biên độ dung sai tự nhiên (Tolerance) và quy định tổ chức giám định nào sẽ nắm giữ quyền phán quyết chung cuộc (Final and Binding Inspection), doanh nghiệp Việt Nam sẽ lập tức bị đẩy vào thế yếu. Sự gia tăng độ ẩm này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân phức tạp: do sự biến đổi sinh học tự nhiên đặc thù của hàng nông sản, do điều kiện bảo quản trong quá trình vận chuyển như container bị thấm nước hoặc hệ thống thông gió hoạt động kém, hoặc cũng có thể chỉ là do sai số kỹ thuật giữa phương pháp lấy mẫu và thiết bị đo lường tại hai đầu địa điểm.
Nếu nguyên nhân thực sự là do biến đổi sinh học hoặc sai số thiết bị, sẽ rất khó để quy chụp trách nhiệm cho một bên cụ thể nào; tuy nhiên, nếu đó là lỗi vận chuyển như container bị rò rỉ nước thì trách nhiệm có thể thuộc về hãng tàu hoặc bên phải chịu rủi ro vận tải theo điều kiện Incoterms đã chọn. Ba khả năng này sẽ dẫn đến ba hướng quy kết trách nhiệm hoàn toàn khác nhau. Đây chính là nguyên nhân cốt lõi giải thích vì sao hợp đồng thương mại cần phải chỉ định trước phương pháp thử và cơ quan giám sát quy trình bảo quản trong suốt quá trình vận chuyển, nhằm triệt tiêu mọi cuộc tranh luận vô bổ về nguyên nhân một khi tranh chấp đã xảy ra.
Trong tình huống phải đưa nhau ra phân xử, căn cứ theo Điều 36(1) của CISG, cơ quan tài phán sẽ phải lật lại toàn bộ hồ sơ để phân định xem mức độ ẩm 14,5% kia là do bản chất hàng hóa đã tiềm ẩn nguy cơ từ cảng bốc hàng (tức là lỗi của người bán), hay do container bị nhiễm nước biển (tức là lỗi của khâu vận chuyển). Việc thiếu vắng một hệ thống điều khoản kỹ thuật đồng bộ về chất lượng sẽ khiến doanh nghiệp xuất khẩu không thể đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng mình đã giao hàng đúng giao kèo, làm cho tờ chứng thư tại cảng bốc hàng mất đi giá trị quyết định và buộc doanh nghiệp phải gánh chịu thiệt hại tài chính toàn bộ.
Để kiểm soát chặt chẽ rủi ro phát sinh từ khoảng cách địa lý, doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng chiến thuật "khóa" thời hạn kiểm tra và thông báo khiếu nại. Về cơ sở pháp lý, Điều 38 của Công ước CISG yêu cầu người mua phải tiến hành kiểm tra hàng hóa trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể, tùy thuộc vào điều kiện thực tế. Song song đó, Điều 39 quy định chặt chẽ rằng nếu người mua không thông báo cho người bán về các khiếm khuyết của hàng hóa trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc phát hiện hoặc đáng lẽ ra phải phát hiện, họ sẽ có nguy cơ vĩnh viễn mất đi quyền khiếu nại, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ hiếm hoi mà CISG cho phép. Trong án lệ Dr. S. Sergueev Handelsagentur v. DAT-SCHAUB A/S (CLOUT Case 997) được xét xử tại tòa án Đan Mạch, người mua đã tự đánh mất quyền khởi kiện chỉ vì hành vi trì hoãn việc rã đông và kiểm tra mẫu cá, qua đó vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ phải hành động ngay lập tức theo tinh thần của Điều 38.
Tuy nhiên, việc chỉ khóa chặt mặt thời gian vẫn chưa đủ an toàn nếu phía người mua cố tình sử dụng một phương pháp lấy mẫu khác tại cảng đích để tự ý ép giá. Trong trường hợp này, hợp đồng cần có điều khoản công nhận kết quả giám định của tổ chức được chỉ định từ trước là kết quả chung cuộc và mang giá trị ràng buộc pháp lý duy nhất.
Bảo vệ Dòng tiền trong Hợp đồng Giao hàng nhiều đợt (Điều khoản Independent Instalments & Điều 73 CISG)
Rủi ro cấn trừ chéo này đặc biệt trở nên nghiêm trọng đối với các bản hợp đồng dài hạn được thiết kế chia làm nhiều đợt giao hàng, nơi mà vấn đề chất lượng của một lô hàng đơn lẻ có thể tạo ra hiệu ứng domino gián đoạn toàn bộ dòng tiền của các lô tiếp theo.
Trong án lệ Dingxi Longhai Dairy v. Becwood Technology Group (2011) tại Hoa Kỳ, chỉ vì phát hiện ra nấm mốc trên bao bì của chuyến hàng thứ hai, người mua đã vin vào cớ đó lập tức từ chối thanh toán và đơn phương yêu cầu hủy bỏ toàn bộ các chuyến hàng số 3 và số 4 tiếp theo. Mặc dù ở giai đoạn giải quyết thủ tục, tòa phúc thẩm đã quyết định lật lại phán quyết của tòa sơ thẩm với lập luận rằng việc người bán có thể chỉ nhận được bồi thường một phần không đủ để làm căn cứ bác bỏ toàn bộ đơn kiện ngay từ đầu, và tòa cũng chưa vội đưa ra phán quyết cuối cùng về việc hành vi của Becwood có chạm đến ngưỡng vi phạm theo khoản 2 Điều 73 CISG hay không. Tuy nhiên, trên thực tế, thiệt hại tài chính nặng nề của phía người bán đã hiện hữu ngay lập tức khi họ buộc phải tốn kém chi phí thu hồi lô hàng đợt 3 và 4 trước khi vụ tranh chấp được giải quyết dứt điểm.
Vì vậy, để tránh trường hợp tương tự, doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động thêm vào điều khoản giao hàng từng đợt độc lập (Independent Instalments Clause) thống nhất mọi tranh chấp về chất lượng hoặc chậm trễ của một đợt giao hàng phải được xử lý độc lập và không hệ lụy đến nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán của các đợt giao hàng khác nhằm về chất lượng hoặc chậm trễ của một đợt giao hàng phải được xử lý độc lập và không hệ lụy đến nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán của các đợt giao hàng khác
Khi các biến số trên đã được tính đến từ bước ký kết hợp đồng, doanh nghiệp có thể hạn chế tối thiểu những tranh chấp không đáng có trong quá trình tự doanh của mình. Suy cho cùng, Incoterms chỉ giới hạn ở việc bảo vệ doanh nghiệp trước các rủi ro giao hàng theo lăng kính của điều kiện thương mại; CISG đóng vai trò phân định trách nhiệm pháp lý đối với hàng hóa không phù hợp; và bản hợp đồng chính là công cụ tối thượng phải dung hòa hai lớp rủi ro ấy, biến chúng thành một cơ chế chứng minh và thanh toán thực tiễn có khả năng vận hành bảo vệ người bán khi hàng hóa đã cập bến POD.